TẬP THƠ “NHỮNG VẦN THƠ VỊNH KIỀU”

Nhật Hồng Nguyễn-Thanh-Vân

 

Lời trình bày thêm của tác giả : Tập “Những Vần Thơ Vịnh Kiều” này đã được xuất bản và ra mắt tại Little Sài Gòn vào năm 1996 được nhiều độc giả yêu thích, và có lời bình hết sức khen ngợi của Giáo Sư Lưu Trung Khảo. Nay xin đăng lại trên đây với những sửa chữa khá công phu về những lỗi chính tả, và một số ít các câu đối trong toàn tập thơ cho được chỉnh hơn.

 

THAY LỜI TỰA

__________________

 

Truyện Kiều là một áng văn chương tuyệt tác, mà hầu như mỗi người Việt Nam đều đã đọc qua, hay có lần được nghe nói đến.

 

Một đời tài sắc của Thúy Kiều với 15 năm lưu lạc, lúc ở lầu xanh, lúc ngồi nơi gác tía; khi thì chuông sớm mõ khuya, khi lại dạo đàn nơi hiên vắng. Mỗi bước nỗi trôi của nàng là cả một trời tình bể hận mông mênh… đều được Đại Thi Hào NGUYỄN DU diễn tả rất tài tình, như xoáy vào tim óc của người đọc lẫn người nghe. Văn chương đến thế là tận cùng tuyệt diệu “tưởng như máu thấm vào đầu ngọn bút”, mà Mộng Liên Đường chủ nhân đã từng nhận xét.

 

Tuy nhiên, kẻ đương thời với Tiên Điền tiên sinh, và cả nhiều đời sau nữa, mỗi người đều có cái cảm nhận riêng về thi tài của Ông. Và cũng có rất nhiều người cảm khái trước cuộc đời dâu bể tang thương của nàng con gái họ Vương, mà làm thơ ngâm vịnh cho số phận má hồng truân chuyên chìm nổi…

 

Cũng có kẻ chê bai là hạng “liễu ngõ hoa tường”, phải mang lấy số đoạn trường cho đáng thói tà dâm !?

 

Tác giả là người hậu học, tự xét mình còn nhiều non kém trên chốn thi đàn, nhưng vì tấm lòng mê cảm Truyện Kiều, thương nỗi dập vùi của kiếp giai nhân, của một đời tài sắc, cùng những cảnh tình hợp tan biến đổi; cho nên trong lúc bị Cộng Sản cầm tù, đã sáng tác một số bài thơ ngâm vịnh về các nhân vật của truyện này, hầu quên đi những nỗi nhục nhằn lao dịch ! Đồng thời cũng để bày tỏ tấm lòng bất khuất với chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa dã man, mà bọn chúng cho là “Lương tâm thời đại ?”, đến nỗi chúng đem Truyện Kiều ra mổ xẻ theo “Duy Vật Biện Chứng” một cách buồn cười !

 

Ngồi tù ngâm vịnh chuyện Kiều chơi,

Cái thú này đây cũng tuyệt vời !

Một, để nhớ hoài lao khổ ấy,

Hai, cho quên hết nhục nhằn thôi.

Tiếng “Hồ” thoáng nghĩ thù sâu bể,

Chữ “Ngụy” vừa nghe hận ngất trời !

Ôm mối hờn căm mờ Nhật Nguyệt,

Hồn thơ hạo khí mãi bừng sôi !

 

Trước khi vào nội dung, tác giả xin có đôi dòng “Tưởng Niệm Tiên Điền Tiên Sinh” của chúng ta :

 

          Thắp hương lòng tưởng bậc tiền nhân…

          Văn khí bừng sôi động não cân !

          “Thập loại” âm u lời thảm đạm,

          “Đoạn trường” áo não kiếp thanh tân !

          “Tiên Điền” un đúc dòng thi Thánh,

          “Hồng Lĩnh” giồi trau ngọn bút Thần !

          Hội Chủ Tao Đàn ai sánh kịp ?

          Tài hoa rạng rỡ ngát phong vân !

 

… Chỉ e lời thơ còn vụng, ý tứ phô bày có nhiều thiếu sót, dám mong quý vị niệm tình tha thứ cho.

Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân

 

THƯƠNG CẢM THÚY KIỀU

Đọc Xuôi :

Hương chìm bể thảm khóc tàn hoa,

Mệnh bạc Kiều tan nát ngọc ngà !

Thương xót lệ trào tim uất nghẹn,

Cảm sầu thơ thấm máu chan hòa !

Gương mờ nguyệt lạnh niềm cay đắng,

Phấn nhạt đàn trơ nỗi thiết tha !

Trường hận sắc tài ôi lụy khổ,

Hương chìm bể thảm khóc tàn hoa !

 

Đọc Ngược :

Hoa tàn khóc thảm bể chìm hương,

Khổ lụy ôi tài sắc hận trường !

Tha thiết nỗi trơ đàn nhạt phấn,

Đắng cay niềm lạnh nguyệt mờ gương !

Hòa chan máu thấm thơ sầu cảm,

Nghẹn uất tim trào lệ xót thương !

Ngà ngọc nát tan Kiều bạc mệnh,

Hoa tàn khóc thảm bể chìm hương !

 

KHÓC THÂN TỪ HẢI

 Đọc Xuôi :

Trơ trơ đứng chết lúc tàn hơi,

Dũng khí hùng anh cảm đất trời !

Mờ mịt nước mây hờn nghẹn gió,

Héo sầu cây cỏ khóc thương người !

Cờ rơi ngã tướng đời tan nát,

Giáo gãy lìa binh xác rã rời !

Sờ sững mắt theo hồn hận uất,

Trơ trơ đứng chết lúc tàn hơi !

 

Đọc Ngược :

Hơi tàn lúc chết đứng trơ trơ,

Uất hận hồn theo mắt sững sờ !

Rời rã xác binh lìa gãy giáo,

Nát tan đời tướng ngã rơi cờ !

Người thương khóc cỏ cây sầu héo,

Gió nghẹn hờn mây nước mit mờ !

Trời đất cảm anh hùng khí dũng,

Hơi tàn lúc chết đứng trơ trơ !

 

VỊNH THÚY KIỀU

Trăng mới tròn gương chút má hồng,

Trời sao nỡ đọa đến long đong !

Thương thay ! hai lượt lầu xanh đó,

Tiếc nhẽ ! ba lần am vắng không !

Tiệc rượu hầu chồng cay bốn mắt,

Tơ đàn nhỏ máu lạnh năm cung !

Tiền Đường… sóng đổi đời tang tóc,

Trung hiếu Kiều nhi một tấm lòng !

 

KIỀU ĐI TẢO MỘ

Xuân về hoa thắm cỏ non xanh,

Tảo mộ là đây hội đạp thanh.

Xiêm áo xuê xang người rộn rã,

Ngựa xe tấp nập cảnh yên bình.

Ngổn ngang gò đống đưa hương ngát,

Chất ngất trời mây quyện gió lành.

Em chị dang tay cười hớn hở,

Hồn nhiên thay dáng liễu khuynh thành !

 

 VỊNH THÚY VÂN

Khuôn trăng đầy đặn nét đoan trang,

Thay chị nàng Vân giữ đá vàng.

Gối lẻ đượm sầu nơi trướng gấm,

Chồng hờ thêm tủi giữa màn loan !

Chàng Kim… riêng tưởng niềm chung thủy,

Chị Nguyệt… cùng chia nỗi trái ngang !

Mười mấy năm trời ngôi mệnh phụ,

Mà lòng thương bấy phận hồng nhan !

 

VỊNH VƯƠNG QUAN

Một trai con thứ rốt lòng ra,

Tên chữ Vương Quan đẹp phận a !

Phải lũ ô nha đành chịu trói.

Nhờ tay thục nữ được dung tha !

Trí tài thi thố vào lân các,

Nhân nghĩa đáp đền định thất gia.

Vinh hiển một đời gìn giữ đạo,

Tinh thần… không hổ mặt ông cha !

 

KIỀU KHÓC MẢ ĐẠM TIÊN

1.- Trời chiều bóng ngã chếch non đoài,

Tàn cuộc du xuân thấy cảm hoài.

Quạnh quẽ suối buồn lau rũ héo,

U sầu mộ lạnh cỏ tàn phai !

Rõ tình thấu hiểu đời tan tác

Cám cảnh ngùi thương chuyện lá lay !

Thắp nén hương nguyền người bạc mệnh,

Cho hồn vô chủ được nguôi ngoai !

 

2.- Cho hồn vô chủ được nguôi ngoai !

Thương bấy mồ hoang chuốc lạc loài.

Vướng kiếp lầu xanh – hoa mới nở,

Tàn đời hương thắm – nụ vừa khai !

Khuôn thiêng ghét nhẽ người giai khách,

Con tạo hờn chi kẻ sắc tài !

Đau đớn chút tình tuôn lệ ngọc,

Đạm tiên nàng thấu nỗi quan hoài ? !

 

VỊNH ĐẠM TIÊN

Nấm đất đìu hiu cỏ úa vàng,

Ấy mồ vô chủ phận hồng nhan !

Âm thầm huyệt lạnh mưa tơi tả,

U uất lòng đơn gió phũ phàng !

Thanh khí Kiều thương người gác ngọc,

Chân tình ai khóc khách đài trang ?!

Hỡi ơi ! hồn mộng ngàn năm cũ,

Xin hãy về đây nhập thế gian !

 

ĐẠM TIÊN HIỆN HỒN ĐÁP TẠ

 Kiều khóc vừa xong gió nổi cao,

Cây rung lá đổ hãi hùng sao !

Dấu giày rêu thấy in mờ tỏ,

Mùi phấn hương nghe thoảng ngạt ngào !

Có phải thương người rơi lệ thảm ?

Hay là tủi phận xót lòng đau !

Hiện hồn… đáp tạ tình tri kỷ,

Đồng khí đồng thanh tự thuở nào !

 

VỊNH KIM TRỌNG

Tài mạo văn chương quả tót vời,

Si tình cũng thuộc hạng mười mươi !

Thương hương những ngỡ tìm hoa rụng,

Tiếc ngọc hầu mong nhặt phấn rơi !

Thỏ thẻ lời oanh phân rõ lẽ,

Âm thầm dạ bướm phải nghe lời !

Mấy năm nhỏ máu khô dòng lệ,

Nay đổi cầm thơ có ngậm ngùi !

 

KIM KIỀU TAO NGỘ

Chiều Xuân ngan ngát liễu buông mành,

Xui khiến chi mà hội yến oanh !

Đứng kế bên hoa người tưởng mộng,

Ngồi trên lưng ngựa kẻ mơ tình !

Giai nhân vẻ ngọc nên đài các,

Tao khách đường văn rõ tướng khanh !

Một phút tương phùng sao ngắn ngủi ?

Mà sầu đeo đẳng mấy tàn canh !

 

TÂM SỰ KIỀU SAU BUỔI DU XUÂN

1.- Đêm trường tĩnh mịch chốn lầu thơ,

Nàng những buồn cho phận liễu tơ !

Cái kiếp hồng nhan đành nhụy rữa ?

Cuộc đời hương sắc phải bùn nhơ !

Sớm về âm cảnh đầu xanh thắm ?

Khó hẹn trần gian tóc bạc phơ !

Làm vợ khắp người nhưng chết xuống…

Thành ma… lạnh lẽo nỗi bơ vơ !

 

2.- Thành ma… lạnh lẽo nỗi bơ vơ !

Càng nghĩ càng thêm lệ thẩn thờ.

Cám cảnh mồ hoang tàn vóc ngọc,

Thương đời mệnh bạc nát hồn thơ !

Thấy người hoa gấm lòng rung cảm,

Nghĩ phận bèo mây dạ dám mơ !

Gặp gỡ làm chi thêm vướng bận ?

Trăm năm biết có chút duyên hờ !

 

 ĐẠM TIÊN BÁO MỘNG

         (Lần Thứ Nhất)

1.- Tựa ngồi bên triện mới thiu thiu,

Thoắt hiện từ đâu một tiểu kiều.

Dáng liễu chập chờn tua gấm phủ,

Gót sen lãng đãng dấu hài thêu !

Xiêm y thấp thoáng trông lành lạnh,

Son phấn mơ màng vẽ hắt hiu !

Ướm hỏi : “khách Đào Nguyên lạc lối ?

Hay là tìm bạn giải cô liêu ? !”

 

2.- Thưa rằng : tôi chẳng phải ai xa,

Là kẻ mồ hoang bóng nguyệt tà.

Cảm nghĩa đồng thanh mà hiện đến,

Nghĩ tình tương khí mới bày qua !

Đoạn trường sổ đặt buồn cam chịu,

Bạc mệnh thuyền vương khó tránh ra !

Họa phúc lưới trời thưa há lọt,

Thôi đành nhụy rữa một đời hoa ! !

 

KIM TRỌNG TƯƠNG TƯ KIỀU

1.- Nghề riêng nhớ ít với mơ nhiều,

Từ buổi chia tay cảm bóng Kiều !

Hai chữ tương tư sầu mấy điệu,

Chút lòng say đắm khổ bao chiều !

Nét phù dung gợi niềm dan díu,

Dáng hải đường phô vẻ dấu yêu !

Dâng tấm tình si người thấu hiểu,

Khách đài trang hỡi phách hồn xiêu !

 

2.- Khách đài trang hỡi phách hồn xiêu !

Ngơ ngẩn lòng nghe nỗi hắt hiu.

Tơ phím chùng giây đàn lạc điệu,

Bút nghiên rũ nét mực tiêu điều !

Buồng văn lắm độ hờn trăng chiếu,

Lầu ngọc đòi phen mượn gió kêu !

Gối mộng đêm đêm… kề vóc liễu,

Mà ôi… tỉnh giấc vẫn cô liêu ! !

 

KIM TRỌNG ĐI TÌM KIỀU

1.- Bâng khuâng nhớ cảnh nhớ hình ai,

Tìm đến nơi xưa luống cảm hoài !

Dưới suối vi lô chừng héo úa,

Bên cầu tơ liễu cũng tàn phai !

Những mong bèo nước còn sum họp,

Mà ước trời mây sẽ tái lai !

Lần nẻo Lam Kiều mơ lá thắm,

Tương tư sầu chất nặng oằn vai !

 

2.- Oằn vai chất nặng mối thương sầu,

Tìm đến lầu trang ruổi vó câu,

Hỏi liễu ngại ngùng chưa dám đó,

Nghe oanh mai mỉa khá tìm đâu ?

Ngoài tường rụng lá hoa vừa độ,

Trước cổng cài then nắng nhạt mầu !

Ôi ! ngọn gió nào khơi bể ái,

Mà ngâm câu “sắc bất ba đào… !”

 

 KIM KIỀU ĐÍNH ƯỚC

1.- Sầu đong càng lắc lại càng đầy,

Một phận trần trần chịu ấp cây.

Cũng bởi tương tư lòng rũ héo,

Vì đâu nhung nhớ vóc hao gầy !

Động đào ai khóa nguồn thương ấy,

Tuờng gấm người đeo nỗi nhớ này !

Nhờ chiếc thoa vàng thay Nguyệt lão,

Mà cung thiềm quế thả then mây !

 

2.- Then mây mở khóa… động thiên tiên,

Tình nở mùa yêu cũng ngẫu nhiên.

Quạt gấm cành thoa trao tiếng hẹn,

Khăn là đôi xuyến khắc câu nguyền,

Nhụy đào vui hé chào thôn xóm,

Bông liễu mừng bay đậu láng giềng !

Hạnh ngộ hôm nay trời đất chứng,

Tấm lòng kết chặt dãy tương liên !

 

KIỀU ĐÀN LẦN ĐẦU GẶP KIM TRỌNG 

1.- Gió lọt song đào hiên Lãm Thúy,

Cầm trăng nắn nót phiếm tơ sầu !

Năm cung đàn réo tình Lưu Thủy,

Mười ngón tay ngân khúc Phượng Cầu !

Từng tiếng nỉ non vào vạn kỷ,

Mỗi lời não nuột đến nghìn thu !

Nào hay từ đó vương đời lụy,

Một kiếp tài hoa phải úa mầu !

 

2.- Phải úa mầu trăng người mệnh bạc,

Vì anh hoa tiết… ngón đàn sầu !

Chàng Kim lắm lúc hồn tan nát,

Nàng Thúy đòi phen lệ thấm sâu !

Một khúc đoạn trường sao quái ác ?

Nửa đời khổ hận đến cơ cầu !

Rằng hay… thì chính là hay thật,

Mà đắng cay cho nỗi dãi dầu ! !

 

KIM KIỀU CHIA BIỆT

Vàng đá từ khi biết tuổi nhau,

Trăng thề soi rõ tấm tình sâu.

Liêu Dương bỗng nhận niềm ly biệt,

Lầu Thúy buồn chia nỗi dãi dầu !

Hai mặt, hai lòng chung tưởng nhớ,

Một hình, một bóng rẽ sầu đau !

Ba năm cách trở nào ai tránh…

Khỏi cuộc thăng trầm lớp bể dâu… !

 

VỊNH VƯƠNG VIÊN NGOẠI

Viên ngoại triều Minh có họ Vương,

Gia tư nghĩ cũng bậc thường thường.

Mắc quân vô lại thân già khổ,

Lầm kẻ tà tâm phận gái thương !

Chia cách tình thâm hiên Thúy Liễu,

Sum vầy nghĩa cũ bến Tiền Đường !

Tường vôi Ông rắp gieo đầu bạc,

Muốn chết cho con khỏi đoạn trường !

 

KIỀU GẶP CƠN GIA BIẾN

1.- Đầy nhà vang tiếng đám ruồi xanh,

Vơ vét chi mà đến sạch sanh !

Khổ thảm thân già cơn ruột thắt,

Đớn đau lòng trẻ nỗi hồn kinh !

Bởi tên xưng xuất tình chưa rõ,

Vì lũ tham ô tội đã dành !

Nên mới ra tay dùng trói buộc,

Khảo người, khảo của thật hôi tanh !

 

2.- Khảo người khảo của thật hôi tanh !

Bỗng chốc đời cha ngọn chỉ mành.

Biết kiếm tìm đâu vàng vẹn đủ,

Để mong giữ được ngọc nguyên lành !

Dứt tình – tan tác lòng cam chịu,

Vẹn hiếu – lầm than dạ phải đành !

Nhờ kẻ băng nhân làm mối lái,

Nghẹn ngào rao bán mảnh hồn trinh !

 

KIỀU BÁN MÌNH CHUỘC CHA

1.- Trời xanh sao nỡ ghét hồng nhan !

Nghịch cảnh bày chi nỗi trái ngang !

Báo hiếu – bán mình cam ngọc nát,

Phụ tình – tủi phận để hoa tàn !

Cậy em… nhận thế duyên cầm sắt,

Cho chị… vùi chôn nợ đá vàng !

Dù có mai sau lòng tưởng nhớ,

Thì nâng đàn dạo phím ngùi thương !

 

2.- Dạo phím ngùi thương kẻ lỡ làng !

Đốt lò hương cũ giải hồn oan.

Những mong người nối tình mai trước,

Xin chúc chàng say chữ phượng loan !

Tình chị duyên em tròn một nẻo,

Công cha nghĩa mẹ vẹn đôi đàng !

Dù cho đêm vắng nương cành biếc,

Hiển hiện về đây cũng vẽ vang !

VỊNH MÃ GIÁM SINH

Nhẵn nhụi mày râu gã Giám Sinh,

Lầu xanh quen thói bán mua trinh !

Sổ sàng vin liễu hèn nhân cách,

Trơ trẻn vùi hoa cạn thế tình !

Tiếc khóa Đào nguyên tàn thể phách,

Thương cung Thiềm quế đọa hồn linh !

Gươm thiêng báo ứng nghe rành mạch,

Họ Mã đầu rơi đáng tội mình !

 

KIỀU ĐÀN CHO HỌ MÃ

Người mua lại ép tay cầm nguyệt,

Nàng nhả đường tơ đến não nùng !

Đau đớn nỗi nhà tan ngọc khiết,

Ngậm ngùi chút phận lỡ tình chung !

Đàn reo hận chuốc lên từng tiết,

Châu nhỏ sầu rơi thấu mấy cung !

Họ Mã mừng mua nhằm ngọc biếc,

Mà ôi ! Kiều thảm thiết vô cùng !

 

KIỀU THẤT THÂN CÙNG HỌ MÃ

1.- Thương thay… cho một đóa trà mi,

Đành để con ong tỏ lối đi !

Vùi dập đài hoa cơn nhớp nhúa,

Rã rời nhụy phấn trận cuồng si !

Tiết trong ngầu đục rồi thân gái,

Ngọc trắng lầm than chịu vết tì !

Xé ruột bầm gan mưa gió trút,

Cắn răng lệ chảy ướt rèm mi !

 

2.- Rèm mi lệ chảy hận đòi cơn,

Kim Trọng chàng ơi thiếp tủi hờn !

Thân liễu biết về tay tráo trở ?

Nhụy đào thà hiến kẻ keo sơn !

Đuốc hoa bỏ lạnh hồn tê tái,

Nệm gấm đành trơ giấc chập chờn !

Tài sắc cũng tàn theo phận mỏng,

Còn chăng là một tấm tình chôn !

 

VỊNH VƯƠNG BÀ

Đứt ruột lòng đau nỗi xót xa,

Bán con thêm tủi nhục Vương Bà !

“Ba năm nhũ bộ”… thương tình mẹ,

“Chín chữ cù lao”… chuộc tội cha !

Tơ trúc xôn xao buồn phận trẻ,

Quản huyền rộn rã khổ thân già !

Đùng đùng gió giật xe châu chuyển,

Đứt ruột bầm gan nỗi xót xa !

 

KIỀU ĐẾN LÂM TRI

Xe châu dừng bánh đất tha hương,

Nàng những bâng khuâng nỗi chán chường !

Biền biệt hai phương trời rẽ lối,

Ngỡ ngàng một nẻo núi ngăn đường !

Tượng mày trắng thấy càng ngơ ngác,

Ả má hồng xem cũng lạ dường !

Chút phận ngây thơ nào có biết

Lầu xanh từ đó… nhuốm tang thương !

 

VỊNH TÚ BÀ

Nhác trông nhờn nhợt thịt cùng da,

Đanh đá ai hơn mụ Tú Bà !

Bán phấn chi sờn cơn dập liễu,

Buôn hương nào ngại cảnh vùi hoa !

Hơi đồng mới thấy cười toen toét,

Bóng sắc vừa nghe khoái hể ha !

Thiện ác đáo đầu chung hữu báo,

Làm gương cho những bọn tinh ma !

 

KIỀU BỊ TÚ BÀ TRA TẤN

(Lần 1)

Nàng thưa rõ hết chuyện đuôi đầu,

Phận tiểu tinh… đà chịu bấy lâu.

Mụ hét tam bành cơn thịnh nộ,

Mã rùn chín vía nỗi lo âu !

Thảm thương thân liễu đành mang tủi,

Đau đớn đời hoa phải chuốc sầu !

Cũng bởi lằn roi đầy nghiệp chướng,

Vàng tan, ngọc nát bể trầm châu !

 

KIỀU TỰ TỬ TẠI NHÀ TÚ BÀ

(Lần Đầu)

Nào có ngờ đâu phận mỏng manh,

Nhụy đài chương lạc giữa lầu xanh.

Não nùng thương bấy hoa tàn cánh,

Tan nát bày chi liễu rũ cành !

Hai chữ đoạn trường gieo mệnh bạc,

Một dao oan trái dứt hồn trinh !

Phấn son hết tủi đời giai khách,

Trời đất từ đây bặt tiếng oanh !

 

 ĐẠM TIÊN BÁO MỘNG

(Lần Thứ Hai)

 Một dao tưởng dứt mối oan khiên,

Thiêm thiếp hồn hoa gặp Đạm Tiên.

Báo mộng, mở đường phân nghiệp quả,

Rõ tình, thấu nẻo hiểu tiền duyên !

Đoạn trường âu chịu đời tan tác,

Bạc mệnh thôi đành kiếp đảo điên !

Phải trả luân hồi cho rảnh nợ,

Mười lăm năm… hẹn nước sông Tiền !

 

 KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH

Một lầu Ngưng Bích khóa cành xuân,

Hiu hắt đời hoa nhuốm bụi trần.

Đêm nhớ miên man chòm núi Thái,

Ngày trông vời vợi đám mây Tần

Thương mình phận bạc sầu bao nỗi,

Khiến kẻ tình chung khổ mấy phần !

Cửa bể chiều hôm cồn cát lạnh,

Ầm ầm tiếng sóng… phủ trầm luân !

 

 VỊNH  SỞ  KHANH

Một tay chôn biết mấy cành hoa,

Dùng chước đà đao với Tú Bà.

Khoát áo thư sinh bày kế quỷ,

Làm thân thục nữ mắc đường ma !

Truy Phong để đó lời khôn dứt,

Tích Việt còn kia dấu chửa nhòa !

Ăn bẩn lầu xanh chàng họ Sở,

Dơ tuồng, dơ đến cả ông cha !

 

 KIỀU MẮC LẬN SỞ KHANH

Lầu vắng đêm buồn trăng chếch song,

Đơn côi thêm tủi phận chim lồng !

Đành liều nhắm mắt rơi cành biếc,

Rồi phải dời chơn tắm bụi hồng !

Tưởng được thành mưu tiên Tích Việt,

Dè đâu mắc kế ngựa Truy Phong !

Lật lường ô nhục thay chàng Sở,

Nỡ gạt đời hoa đến não lòng !

 

KIỀU BỊ TÚ BÀ TRA TẤN

(Lần 2)

Thơ ngây đành bị chước đà đao,

Kiều phải đòn roi chảy máu đào !

Vóc liễu lầm than vò ruột héo,

Mình mai tơi tả xót gan bào !

Muốn cho đời bướm đừng tan xác,

Phải để thân lươn chịu lấm đầu

Trinh bạch chút lòng xin gác bỏ,

Từ đây hoen ố lệ tuôn trào !

 

KIỀU Ở THANH LÂU TẠI LÂM TRI

1.- Số phần đày đọa chốn thanh lâu !

Muốn tránh nhưng mà tránh được đâu .

Anh yến dập dìu đưa cửa trước,

Trúc mai rộn rã rước buồng sau !

Đòi phen gió tựa trăng hờ hững,

Lắm lúc mây vờn mưa khổ đau !

Mà nỗi niềm riêng ai có biết ?

Đời hoa luân lạc mấy thương sầu !

 

2.- Đời hoa luân lạc mấy thương sầu !

Ôi nhụy đài trang đã nát mầu.

Xiêm áo tả tơi lầm lỡ ngọc,

Phấn son nhầy nhụa đắm chìm châu !

Luyến thương ai đó hồn tê tái,

Tương kiến người đâu mộng úa nhầu !

Cung phiếm ngẩn ngơ đàn lỗi nhịp,

Tơ chùng lụy ứa nỗi hờn đau !

 

3.- Tơ chùng lụy ứa nỗi hờn đau !

Một bước vùi theo mộng buổi đầu.

Cánh nhạn chiều sương chìm cuối bãi,

Hồn ve đêm gió lịm bên cầu !

Mảnh hương nguyền cũ đành phai sắc,

Mái tóc thề xưa phải nhuốm mầu !

Bướm chán ong chường thân nhụy rữa,

Đào phai liễu thẹn phận hồng lâu !

 

4.- Đào phai liễu thẹn phận hồng lâu !

Hương sắc nhòa theo lệ ướt bâu.

Non nước chập chùng che ngõ thúy,

Đất trời thăm thẳm khuất cồn dâu !

Một lời vàng đá buồn lên mắt,

Chín chữ cù lao thấm xuống đầu !

Hai cội cây già, ai hiếu thảo ?

Đàn em giờ biết đã ra sao ? !

 

5.- Đàn em giờ biết đã ra sao ? !

Thay chị, đường duyên được thắm đào ?

Chua xót ngày xanh hồ lệ hận,

Ngùi đau đêm trắng đĩa dầu hao !

Nổi trôi… có dứt từ mai nhỉ ?

Chìm đắm… còn theo đến độ nào !

Ôi đấng cao dày kia quá quắc,

Bao giờ nợ trả hết lao đao ? !

 

6.- Bao giờ nợ trả hết lao đao ? !

Bạc mệnh đày chi phận má đào !

Buồng vắng sầu khơi lòng đoạn đứt,

Lầu xanh hận lấp mộng tương giao !

Thuyền tình kia dứt hương trinh đó,

Đàn cảm này mang phẩm hạnh nào !

Một mảnh quần hồng hoen ố rượu,

Đêm đêm vàng võ giấc chiêm bao !

 

7.- Đêm đêm vàng võ giấc chiêm bao !

Tỉnh mộng càng thêm nỗi nghẹn ngào.

Ngán ngẩm thân tàn sương giá lạnh,

Âm thầm mắt đẫm lệ buồn đau !

Cung cầm dưới nguyệt, trăng hờ hững,

Chén rượu bên hoa, liễu dạt dào !

Một nước cờ đời sao khốc hại ?

Trần gian cam lạc nẻo vì sao ! ?

 

8.- Trần gian cam lạc nẻo vì sao ! ?

Đày đọa lầm than đến nước nào !

Vẹn hiếu – cũng liều thân ngọc bích,

Trọn tình – đã thế nhụy hoa đào !

Núi sông thương bấy đời tan nát,

Trời đất bày chi phận dãi dầu !

Túc trái tiền căn gì đến nỗi ?

Đầu xanh chìm lắp bụi thanh lâu ?

 

9.- Đầu xanh chìm lắp bụi thanh lâu ?

Phong gấm đường tơ đã úa mầu !

Trăm mối ngổn ngang vò chín khúc,

Tấc lòng cay đắng tả ngàn câu !

Ngỡ ngàng lá rụng ngoài hiên vắng,

Man mác bèo trôi giữa bến sầu !

Văng vẳng… tai còn nghe tiếng Đạm,

Đoạn trường sổ đặt tránh vào đâu ? !

 

10.- Đoạn trường sổ đặt tránh vào đâu ? !

Một khối tình chung gãy nhịp cầu !

Trong cảnh bùn nhơ mờ gió chướng,

Giữa vùng cát lạnh buốt trời ngâu !

Tiền Đường đợi sóng chôn vàng đá,

Lãm Thúy thề trăng đắm ngọc châu !

Thôi thế đành thôi đời thục nữ…

Số phần đày đọa chốn thanh lâu ! ! !

 

VỊNH  THÚC  SINH

Vốn người Huyện Tích, đất Châu Thường,

Chàng Thúc Kỳ Tâm thật đáng thương !

Sợ vợ – sợ cành hoa Trũng Tể,

Mê đào – mê nét liễu Đài Chương !

Chỉ trăng lòng hứa điều chung thủy,

Chuốc rượu hồn đau khúc đoạn trường !

Vàng đá thẹn mình thân bạc bẽo,

Con tằm đến thác vẫn còn vương !

 

KIỀU GẶP THÚC KỲ TÂM

Lầu xanh nghe nức tiếng tài hoa,

Chàng Thúc tìm xem thấy mặn mà.

Trăng gió… trước e nhiều bão táp,

Đá vàng… sau quyết dẫu phong ba !

Nghìn thương trăm nhớ càng da diết,

Một tỉnh mười mê đến đậm đà !

Sắc nước hương trời xiêu đổ quán,

Mua về thêm đắm vẻ Hằng Nga !

 

VỊNH  THÚC  ÔNG

Cùng quan Lại Bộ kết thông gia,

Vì đứa con hư lỗi đạo nhà.

Nên muốn đọa đày tan kiếp liễu,

Đành đem tố cáo nát đời hoa !

Nào hay vẻ ngọc đầy u uất,

Mới rõ vần thơ đậm thiết tha !

Cổ Xúy bày hàng nghe tác hợp,

Thúc Ông lời cũng hết phong ba !

 

KIỀU BỊ QUAN PHỦ TRA TẤN

(Bị tra tấn lần 3)

Sự việc đâu ngờ đến cửa công,

Trước Quan, nàng quyết vẹn tơ đồng.

Nghẹn ngào nét liễu trào châu thắm,

Vung vút lằn roi chảy máu hồng !

Chàng Thúc trông qua càng xót dạ,

Phủ Đường xét lại cũng xiêu lòng !

Giải vi mới chỉ lời hơn thiệt,

Lan huệ ngày thêm vẻ mặn nồng !

 

KIỀU KHUYÊN THÚC SINH VỀ THĂM VỢ CẢ

1.- Nghĩa nặng tình sâu đẹp gối chăn,

Lòng riêng nàng luống những băn khoăn.

Có yên được tấm thân bồ liễu ?

Hay khổ cho duyên phận cát đằng !

Bèo giạt sợ từng cơn sóng vỗ,

Hoa trôi ngán mỗi lúc mưa giăng !

Bày tình phân rõ lên chàng Thúc,

Xin hãy hồi gia giữ đạo hằng !

 

2.- Đạo hằng là trọng chớ nên khinh,

Hai chữ phu thê phải vẹn tình.

Trong ấm bởi chàng lo thủ phận,

Ngoài êm để thiếp được nương danh.

Dù cho kẻ lớn nghi vàng đá,

Cũng chịu thân hèn giữ sắt đinh.

Xin hãy trình qua người thấu hiểu,

Rũ lòng thương chút nghĩa ba sinh !

 

THÚC SINH VỀ THĂM VỢ CẢ

Nghe lời phải lẽ của nàng phân,

Chàng Thúc lên yên tách dặm phần.

Những muốn nói mình : “thêm bể ái”,

Mà thôi sợ vợ : “phá nguồn ân !”

Vì đâu rõ ý… đành câm miệng,

Nên mới dối lòng… để lụy thân !

Chỉ tội Kiều nhi đời đọa lạc,

Vào tay sư tử chuốc phong trần !

 

KIỀU NHỚ THÚC SINH

Kể từ lên ngựa lúc chia bào,

Sắc lá rừng phong cũng úa màu.

Chiếc bóng song the vò võ đợi,

Tấc lòng dặm liễu ngẩn ngơ sầu !

Sắn bìm nghĩ phận thêm buồn tủi,

Mai trúc thương mình lắm khổ đau !

Xin được vuông tròn thân cát lũy,

Hỡi vành trăng khuyết với ba sao !

 

VỊNH HOẠN THƯ

Vốn nhà họ Hoạn cũng danh gia,

Tuổi trẻ mà mưu chước cáo già !

Giữa tiệc ngồi xem chừng thỏa thích

Dưới sân quỳ lạy được dung tha !

Nói điều khéo buộc lời hơn thiệt,

Xử sự khôn phân lẽ chánh tà !

Dòng máu ghen tuông lưu vạn thưở,

Hiếp chồng… nghe đến rởn làn da !

 

VỊNH KHUYỂN ƯNG

Sửa sang lèo gió với buồm mây

Ưng-Khuyển côn quang đủ một bầy.

Vượt biển bắt người gươm tuốt vỏ,

Đốt nhà quăng xác lửa trùm thây !

Thi hành ý Hoạn gieo sầu khổ,

Vùi dập thân Kiều chịu đắng cay !

Lũ quỷ… về sau đầu khỏi cổ,

Ấy là cái nợ trả cùng vay !

 

THÚC SINH KHÓC KIỀU

Hồi quê trở lại mái lầu thơ,

Một đống tàn tro gió dật dờ !

Lảo đảo hồn như cơn ác mộng,

Khiếp kinh lòng ngỡ trận cuồng mơ !

Những mong kết chặt thành duyên liễu,

Nào nghĩ lìa tan đứt mối tơ !

Vật vã gieo mình than khóc mãi,

Người tiên… còn được thấy bây giờ ? !

 

KIỀU BỊ HOẠN BÀ TRA TẤN

(Bị tra tấn lần 4)

Chập chờn vừa mới tỉnh hồn mai,

Tình thật thưa qua nỗi lạc loài.

Nào biết mắc vào nơi cửa dữ,

Phải đành nhận lấy trận đòn oai !

Máu đào tuôn đổ thân vàng nát,

Lệ thắm dầm chan nét ngọc phai !

Phận kiến đời ong trời chẳng thấu,

Mặc tình sấm chớp mặc trần ai !

 

KIỀU LÀM NÔ TÌ CHO HOẠN BÀ

(Làm đầy tớ lần thứ nhất)

Thoát kiếp lầu xanh tưởng phận yên ?

Ngờ đâu sóng vẫn bủa giăng thuyền !

Thay tên hầu chủ sân đài các,

Đổi áo làm nô cửa quý quyền !

Bèo nước hãy còn đeo đẳng nợ,

Cát đằng cũng phải tách lìa duyên !

Gót tiên… đày đọa vào u tối,

Tình hiếu đành chôn dưới cửu tuyền !

 

VỊNH MỤ QUẢN GIA

Thấy người tan tác một đời hoa,

Cảm động thay lòng mụ Quản Gia !

Phục thuốc chửa lành lo sớm tối,

Tìm lời nói khéo dặn gần xa !

Hiểu lòng – người giãi niềm cay đắng,

Lĩnh ý – Kiều vơi nỗi xót xa !

Đền đáp nghìn vàng ơn Phiếu Mẫu,

Cũng là xứng đáng nghĩa tình a !

 

KIỀU LÀM NÔ TÌ CHO HOẠN THƯ

(Làm đầy tớ lần thứ 2)

Đổi chủ, theo hầu với tiểu thơ,

Nào hay địa ngục thế gian chờ !

Sớm lo khăn lược dùng tươm tất,

Chiều sắp màn chăn dám hững hờ !

Một bóng đèn sầu rưng ngấn lệ,

Bốn dây đàn cảm thấm đường tơ !

Nhờ tài giãm chút lòng ghen hận,

Sư tử Hà Đông… cũng ngẩn ngơ !

 

KIỀU ĐÀN CHO VỢ CHỒNG HOẠN THƯ

Vâng lời đến trước bình the đó,

Nàng gảy năm cung lịm mảnh hồn !

Trọn khúc lòng đau duyên phận rõ,

Lưng dòng lệ thảm tấm tình chôn !

Người trên bàn tiệc âm thầm khổ,

Kẻ dưới sân hoa héo hắt buồn !

Ôi ! tiếng đàn nghe đầy nức nở…

Mà không xao xuyến lửa ghen hờn ? !

 

 KIỀU ĐẾN QUAN ÂM CÁC

(Đi Tu lần thứ nhất)

Tam qui ngủ giới gác Quan Âm,

Tiếng mõ hồi chuông rửa sạch tâm.

Nửa kiếp gấm hoa chìm vọng tưởng,

Một đời son phấn tách mê lầm !

Bụi hồng lớp lớp vơi tình khổ,

Rừng tía trùng trùng chất nghĩa thâm !

Phận bạc có còn đeo nữa nhỉ,

Hay là… chưa dứt nợ cài trâm ? !

 

TRONG VIỆN SÁCH THÚC SINH NHỚ KIỀU

Then nhặt quan phòng ai có biết ?

Thương người mệnh bạc nỗi nào nguôi.

Gác kinh cách mấy lìa hai nẻo,

Viện sách xa gì biệt mỗi nơi !

Leo lét đèn khuya buồn hận lấp,

Âm thầm trăng xế thảm sầu rơi !

Hỡi ơi chàng Thúc lòng đau xé…

Lệ chảy đầy tim… mặt phải cười !

 

THÚC SINH LẺN ĐẾN QUAN ÂM CÁC

Thừa cơ lẻn đến gác Quan Âm,

Tầm tả dòng châu khóc lỗi lầm !

Thương khách tài hoa cam phận mỏng,

Trách mình thô thiển lỡ tình thâm

Tráo mưu quyết đoạn hồn tơ trúc,

Thua trí đành chôn điệu sắc cầm !

Tan tác từ đây người mỗi nẻo,

Tủi buồn cho số Thúc Kỳ Tâm !

 

KIỀU TRỐN KHỎI QUAN ÂM CÁC

1.- Từ khi… khoát lấy áo nâu sòng,

Nước đục toan lìa với bụi trong.

Nghĩ những đường trần thôi cá chậu,

Dè đâu cửa đạo vẫn chim lồng !

Rào cây đợi lúc nai vào bẫy,

Bủa lưới chờ khi thỏ vướng tròng !

Bao quản thân bèo cơn nước lũ,

Bôn đào dẫu phải bước nguy vong !

 

2.- Bôn đào dẫu phải bước nguy vong,

Dặm khách đường khuya gió lạnh lùng !

Điếm cỏ giọng gà tan nát dạ,

Cầu sương điệu dế sắt se lòng !

Trăng tàn rũ xuống niềm thương nhớ,

Liễu héo sầu chia mối cảm thông !

Sau trước bơ vơ trời thảm đạm,

Sắc tài sao khỏi số long đong !

 

KIỀU Ở CHIÊU ẨN AM

           (Đi Tu lần 2)

Từ độ nương mình Chiêu Ẩn am,

Dốc lòng dứt bỏ mối si tham !

Tâm thành quyết đến nơi tiên cảnh,

Trí tịnh lìa xa cõi tục phàm !

Những tưởng hết rồi duyên gác tía,

Nào hay chưa dứt nợ cầu lam !

Chuông vàng khánh bạc làm nhân chứng,

Thêm một lần… hoa phải nhúng chàm !

 

VỊNH  BẠC  BÀ

Thắp hương chay lạt vẻ hiền hòa,

Nào có ngờ đâu mụ Bạc Bà !

Bán Thánh buôn Thần phô kế quỷ,

Cầu Tiên khẩn Phật dấu trò ma !

Hiểu lầm – Vãi quyết trao thân ngọc,

Tưởng thật – Kiều thêm lụy sắc hoa !

Ôi lũ tanh hôi đầy khắp chốn,

Trời sao chẳng đánh chết đi mà ? !

 

VỊNH  BẠC  HẠNH

Chàng Hạnh từng phen ôm ấp tiên,

Mà ngu đem bán bởi mê tiền.

Ngoài sân lạy Thánh van Thần rõ,

Trong trướng chỉ Trời vạch Đất thiêng !

Hai chữ trúc mai chưa bén mộng,

Một đời tơ liễu lại hờn duyên !

Bạc đem mặt bạc tìm xa lánh,

Chỉ tội đời hoa lắm đảo điên !

 

KIỀU Ở LẦU XANH TẠI CHÂU THAI

1.- Đoạn trường dẫn tới… bến Châu Thai,

Lại một lần thêm nỗi lạc loài !

Mày trắng, lầu xanh tàn vóc liễu,

Quần hồng, rượu biếc nát hồn mai !

Duyên hương lửa tưởng lầm hoa nở,

Nợ gió trăng đành bắt nhụy phai !

Tài sắc cầm thơ chi đó tá ?

Bể đời mỗi bước một trần ai !

 

2.- Bể đời mỗi bước một trần ai !

Nhớ mẹ cha xưa vẫn ước lời,

Những muốn duyên con bền ngọc giắt,

Nào hay phận trẻ lỗi trâm cài !

Tuyết sương mấy độ nhòe vai áo,

Cát bụi đòi cơn phủ gót hài !

Sênh phách đàn ca ôi hận tủi,

Từng đêm nức nở khóc canh dài… !

 

3.- Từng đêm nức nở khóc canh dài… !

Trăng cũng dường chia nỗi bẻ bai.

Nửa mảnh mờ mờ chôn dĩ vãng,

Một vùng man mác liệm tương lai !

Chán chường ôi kẻ nương lầu bích,

Ngán ngẩm kìa ai vọng các đài !

Sương gió phủ phàng tơ lạc phiếm,

Hồn trinh đâu nữa quyện thi hài !

 

4.- Hồn trinh đâu nữa quyện thi hài !

Nhơ nhuốc lầm than quá mỉa mai.

Dày dạn phấn son mưa héo hắt,

Lọet lòe xiêm áo lệ đầy vơi !

Mối sầu chất ngất trời cao thẳm,

Nỗi nhớ luồn sâu bể rộng dài

Vùi dập xuân thì cho đến thế,

Bướm ong chuyền đậu lúc nào phai !

 

5.- Bướm ong chuyền đậu lúc nào phai !

Có thấu cùng chăng hỡi đất trời !

Cái kiếp hồng nhan cho khách hưởng,

Cuộc đời hương sắc để người soi !

Trớ trêu lắm nỗi buồn thân liễu,

Tàn nhẫn nhiều phen rũ nét ngài !

Cay đắng dập dồn muôn nẻo khổ,

Khuôn thiêng lừa lọc đúng cùng sai ?

 

6.- Khuôn thiêng lừa lọc đúng cùng sai ?

Nỡ bắt phù dung nhuốm bụi đời !

Mái tóc thề trăng kia đã hết,

Đường tơ lãm thúy đó giờ thôi !

Hồn thơ mấy kẻ làm tri ái ?

Nét họa nào ai chuốc cảm hoài !

Nhụy rữa hoa tàn chưa dứt nợ,

Lầu xanh ngao ngán mõi mòn hơi !

 

7.- Lầu xanh ngao ngán mõi mòn hơi !

Muốn chết cho xong trả nợ đời.

Nào có kể gì son phấn điểm,

Đâu còn chi đó gấm nhung mời !

Rượu sầu mỗi giọt cười tê tái,

Đàn cảm từng giây khóc tả tơi !

Mưa Sở mây Tần tuôn lệ máu,

Mặc người vin liễu đắm hồn mai !

 

8.- Mặc người vinh liễu đắm hồn mai !

Mà cõi lòng thêm dửng nét ngài,

Tiếc nước cành dương chưa gội rửa,

Hờn mây đỉnh giáp vẫn đeo đai !

Giác Duyên người hỡi con tan tác

Kim Trọng chàng ơi thiếp lạc loài !

Có biết cho chăng đời thục nữ,

Hồn oan ngoi ngóp giữa trùng khơi !

 

9.- Hồn oan ngoi ngóp giữa trùng khơi !

Ngày một ngày thêm xác rã rời !

Tuởng nghĩa xuân huyên luôn nỗi nhớ,

Nghĩ tình mai trúc chẳng lòng nguôi

Xa xôi bến cũ càng thê thiết,

Biền biệt cầu xưa luống ngậm ngùi !

Hai nhánh chồi non đường hiếu thảo ?

Nỗi nhà canh cánh lệ sầu rơi !

 

10.- Nỗi nhà canh cánh lệ sầu rơi !

Lòng cố quên đi tủi hận đời !

Vùng vẫy nào xong thân lá rụng,

Nguyện cầu cho hết kiếp bèo trôi !

Chắp tay lòng quyết lìa ma lối,

Cúi mặt hồn nương đến Phật đài !

Bể khổ mông mênh đâu chỉ có,

Đoạn trường dẫn tới… bến Châu Thai ? !

 

VỊNH  TỪ  HẢI

Linh khí sáng ngời đất Việt Đông,

Hào quang tỏ rạng chí anh hùng !

Cánh bằng muôn dặm lay trời bể,

Vó ngựa nghìn trùng chuyển núi sông !

Trọng khách hữu tình thương diễm lệ,

Hận người vô sĩ hiển uy phong,

Giang hồ nửa gánh gươm Từ Hải,

Rạch nát hung tàn xóa bất công !

 

KIỀU GẶP TỪ HẢI

1.- Lần thâu gió mát với trăng thanh,

Son phấn lầm than cũng phải đành !

Liếc mắt rung đàn ru Tống Ngọc,

Đưa tình chuốc rượu tiễn Tràng Khanh !

Ngày cười gượng mặt lòng tan nát,

Đêm khóc thầm thân phận mỏng manh !

Bỗng khách biên đình vui trọng nghĩa,

Ra tay… vớt khỏi nẻo lầu xanh !

 

2.- Ra tay… vớt khỏi nẻo lầu xanh !

Ngây ngấy tình yêu nở chính danh.

Tráng sĩ tương phùng trang thục nữ,

Thuyền quyên tao ngộ đấng hùng anh !

Rồng mây ngây ngất lời tơ trúc,

Cá nước mặn mà chữ yến anh !

Phận đẹp duyên ưa trời hạnh phúc,

Tấc lòng phơi phới mộng bình sanh !

 

TỪ HẢI BIỆT KIỀU

1.- Nửa năm hương lửa đượm nồng say,

Chí bốn phương trời động gió mây.

Yên ngựa thanh gươm chừng réo gọi,

Đài gương nhụy phấn há lung lay !

Giai nhân xót tủi sầu chia cách,

Hào kiệt cười vui hẹn tái lai.

Nhi nữ thường tình đâu trói được,

Cánh bằng chín vạn rợp trời bay !

 

2.- Cánh bằng chín vạn rợp trời bay !

Mộng bá đồ vương quyết đắp xây.

Phá lũ sâu dân trời dậy máu,

Diệt phường mọt nước lửa tràn thây !

Anh hùng phẩn uất can trường tỏ

Sĩ khí bừng sôi huyết quản đầy.

Mười vạn tinh binh cờ chật đất,

Hãy chờ… ta sẽ phái về đây !

 

 KIỀU NHỚ TỪ HẢI

Gió đưa bằng tiện tít mù khơi,

Một bóng đèn khuya luống ngậm ngùi !

Nhớ khách mày xanh lưng ngựa ruổi,

Thương mình yếm thắm cánh bèo trôi !

Áo xiêm… những tưởng hồng đôi má,

Son phấn… cam đành nhạt nét môi !

Đã trọn năm chờ chăn chiếu rũ,

Mà người viễn xứ vẫn mù khơi !

 

TỪ HẢI CHO KIỆU RƯỚC KIỀU

Đêm ngày luống những đợi người thương,

Se sắt lòng theo bước dặm trường !

Dậy đất kiếm cung mờ ánh nguyệt,

Át trời binh lửa ngất tà dương !

Nàng đang hãi sợ tâm sầu héo,

Quân đã hò reo lộng rỡ ràng !

Phủ phục cúi đầu : “Thưa Chủ mẫu,

Rày vâng lệnh chỉ rước Nương nương !”

 

TỪ HẢI TÁI HỢP THÚY KIỀU

Hỏa bài tiền lộ đến Nam Đình,

Tiếng trống ầm vang cửa đại dinh.

Rạng rỡ cân đai nhìn tưởng mộng,

Sáng ngời phượng liễn thấy mê tình !

Tròn năm xa cách non thề lỡ,

Một phút trùng lai biển hẹn thành !

Ngây ngất đài hoa chừ… bén nhụy,

Đào nguyên trỗi nhạc khúc trong lành !

 

KIỀU BÁO ÂN BÁO OÁN

1.- Ở đời ân nghĩa phải phân minh,

Sống giữa càn khôn chẳng hổ mình.

Trong chốn phòng the tường sự thật,

Ngoài nơi trướng gấm lệnh lôi đình !

Chiếu danh tầm đến người gây tội,

Đưa thiếp mời sang kẻ trọng tình.

Gươm giáo sang ngời quân thẳng tắp,

Xem nàng báo phục vẻ uy linh !

 

2.- Chỉ gươm mời đến Thúc Kỳ Tâm,

Chàng đã mồ hôi chảy ướt dầm.

Ngớ ngẩn tưởng rằng : “thân phải nát”,

Dịu dàng phân rõ : “ý sai lầm,

“Sâm thương dầu đã lìa ân nặng,

“Cát lũy còn đây tạ nghĩa thâm,

“Gấm bạc nghìn cân xin để tặng…

“ Cho người từng vớt khỏi châu trầm !”

 

3.- Mụ Quản Gia, Vãi Giác Duyên,

Đích thân nàng rước để ngồi trên.

Cúi đầu cảm tạ ơn Bà Phiếu,

Mở mặt nhìn xem nghĩa Trạc Tuyền !

Tưởng lúc sa chân vào tổ quỷ,

Nhớ khi dời bước đến am thiền !

Nghìn vàng báo đáp nào đâu xứng,

Công đức dày cao sánh cửu thiên !

 

4.- Lệnh xuống đầy sân gươm tuốt ra,

Chính danh thủ phạm rõ oan gia !

Hoạn Thư quỳ lạy hồn phi tán,

Chàng Thúc ngồi xem dạ nát ra !

Cúi mặt vừa phân lời biện giải,

Gật đầu mới phán chỉ dung tha !

Khen cho biết nói điều hơn thiệt,

Lấy lượng khoan hồng sinh phúc đa !

 

5.- Tiếp đến một đoàn… lũ ác ma,

Khuyển-Ưng, Mã-Bạc đủ bao nhà.

Kìa xem lấm lét thân chàng Sở,

Nọ hết chanh chua miệng Tú Bà !

Bán phấn buôn hương trời sẵn tội,

Đổi thuyền thay lái quỷ khôn tha !

Thề sao… thì cứ theo lời ấy…

Máu đổ đầu rơi cũng đáng mà !

 

GIÁC DUYÊN TỪ GIÃ KIỀU

Nàng báo vừa xong nỗi oán thù

Giác Duyên từ tạ bước vân du.

Đeo bầu quảy niếp thanh tâm tịnh

Lần chuỗi cầu kinh trọn quả tu !

Luyến tiếc bao nhiêu… đều ảo mộng,

Nhớ thương thế mấy… cũng nghìn thu !

Ta còn gặp gỡ thêm lần nữa…

Tình nghĩa mai sau được đắp bù.

 

VỊNH  HỒ  TÔN  HIẾN

Tổng Đốc vua phong chức trọng thần,

Ấy Hồ Tôn Hiến… đủ kinh luân !

Dùng mưu núp yếm lừa nương tử,

Bày kế dựng cờ bịp tướng quân !

Chuốc rượu nài hoa trơ trẻn mặt,

Nghe đàn giỡn liễu nhuốc nhơ thân !

Quan trên trông xuống… người mai mỉa,

Tổng Đốc vua phong chức trọng thần ? !

 

KIỀU KHUYÊN TỪ HẢI ĐẦU HÀNG

1.- Năm năm trời bể sống oai phong,

Chàng đạp lũy thành, dựng chiến công.

Chất ngất… xương phơi đầy chật núi ?

Thảm sầu… máu đổ ngập tràn sông !

Can qua xưa đã nhiều ghê rợn,

Binh lửa nay còn lắm hãi hùng !

Xin hãy quăng gươm vì nghĩa cả,

Cứu toàn dân hết cảnh gai chông !

 

2.- Còn hơn làm giặc chốn biên cương,

Ai biết rằng ta dẹp nhiễu nhương ?!

Bởi lũ sâu dân đầy bốn cõi,

Và phường mọt nước khắp mười phương !

Thì thôi chí cả đành vang bóng,

Mà phải quyền cơ chọn lấy đường.

Thánh trạch triều nghi xưa vẫn được…

Lòng dân mãi tựa đám Quân Vương !

 

3.- Ta dẫu đạp bằng bể bất công,

Mà thiên hạ… có biết cùng không ? !

Ô danh hai chữ dơ trời đất,

Rạng tiết một lời đẹp núi sông !

Chạnh nhớ… tình cha đòi đoạn ruột,

Ngùi thương… nghĩa mẹ sắt se lòng !

Khuyên chàng nhận chút ơn mưa mốc,

Hạnh phúc là đây thụ sắc phong !

 

TỪ HẢI QUY HÀNG

1.- Nghe lời nàng nói mặn mà thay,

Từ – những băn khoăn chuyện sắp bày.

Nghĩ phận hàng thần lơ láo mặt,

Tiếc đời dũng tướng ngỡ ngàng tay !

Cân đai áo mão thêm luồn cúi ?

Sắc ấn lộng xe chịu đọa đày !

Lòng muốn… đạp bằng cơn sóng dữ,

Làm cho triều đại phải lung lay !

 

2.- Làm cho triều đại phải lung lay !

Đem thái bình ban khắp đó đây.

Chí lớn – nhưng lòng dân chẳng hiểu,

Gan to – mà miệng thế không hay !

Thôi đành chịu khuất vì sông núi,

Cũng phải cam hờn với gió mây !

Xếp giáp quy hàng cho vẹn vẽ,

Tình nhà ơn nước nghĩa cao dày !

 

TỪ HẢI CHẾT ĐỨNG

1.- Đại quan lễ phục kéo cờ hàng,

Từ có ngờ đâu mắc kế gian !

Pháo nổ quân reo lời thét nộ,

Gươm khua ngựa hí tiếng ầm vang !

Râu hùm xếch ngược liều xương máu,

Mắt phượng tròn xoe trải mật gan !

Hùng khí ngất trời cao thảm đạm,

Trơ trơ chết đứng giữa non ngàn !

 

2.- Trơ trơ chết đứng giữa non ngàn !

Hiển hiện hùng uy khiếp lũ gian.

Tiếc nhẽ ! năm năm thề bất khuất,

Thương ôi ! một phút chịu quy hàng !

Giấc mơ xoay thế cờ… trôi hết,

Ý tưởng chuyển thời cuộc… cháy tan !

Chỉ tại rồng thiêng trời đọa lạc,

Một doi tiện thổ dãi dầu sương !

 

3.- Một doi tiện thổ dãi dầu sương !

Linh khí Từ đi tủi phận nàng.

Yêu sắc, anh hùng không lụy sắc,

Nghe đàn, quân tử chẳng say đàn !

Lời khuyên giải, trọn tình non nước,

Tiếng thở than, chung cuộc đá vàng !

Phải lẽ… ai mà không xếp giáp,

Những mong thôi chất đống xương tàn !

 

4.- Những mong thôi chất đống xương tàn !

Tâm huyết Từ công thật đáng thương.

Dẫu bại không mờ gương dũng tướng,

Lúc thành thêm tỏ tấm can trường !

Lễ nghi đâu kém hàng vua chúa,

Phong cách nào thua bậc đế vương !

Chỉ tại họ Hồ phô kế quỷ …

Nghìn năm còn bẩn một trò gian ! !

 

 KIỀU KHÓC THƯƠNG TỪ HẢI

1.- Khói lửa vừa tan cuộc chiến trường,

Nàng quỳ ôm xác khóc thê lương !

Trời như ảm đạm mầu tang tóc,

Mây cũng u buồn sắc thảm thương !

Cây cỏ đìu hiu thây gục ngã,

Núi rừng vắng lặng máu còn vương !

Và… mùi tử khí tanh theo gió,

Rờn rợn hoàng hôn phủ chán chường !

 

2.- Hỡi ơi ! chết đứng thân Từ Hải,

Thảm thiết lòng đau nhạn lẽ bầy !

Dòng máu hùng anh còn rỉ mắt,

Thanh gươm dũng tướng vẫn cầm tay !

Hiên ngang sừng sửng can trường đó,

Lẫm liệt trơ trơ thể xác này !

Hàm én cắn răng hờn thế sự…

Hay buồn… cho chút phận bèo mây ?!

 

3.- Nàng khóc dòng châu chừng rỉ máu,

Dòng châu chừng rỉ máu tim đau !

Máu tim nghẹn xuống đầy u uất,

Nước mắt trào lên ngập thảm sầu !

Nước mắt héo hon niềm nghiệt ngã,

Dòng châu tơi tả nỗi cơ cầu !

Than ôi ! đã hết tình tri kỹ,

Đã hết tình tri kỹ thấm sau !

 

4.- Chỉ muốn gào lên, muốn thét lên !

Trời xanh… sao nỡ dứt đường tên.

Vẫn thừa dũng trí phò lăng miếu,

Nào thiếu hùng tâm dựng phủ đền !

Lừng lẫy năm năm vui khó trọn,

Lỡ làng một phút hận triền miên !

Bởi nghe lời thiếp… mà nông nổi,

Uất nghẹn hồn đau dưới cửu tuyền… !

 

KIỀU TỰ TỬ BÊN XÁC TỪ HẢI

(Tự tử lần 2)

Nhìn chàng chết đứng thiếp hồn đau,

Mặt mũi nào trông thấy được nhau !

Sống ở dương trần quên nghĩa nặng,

Thác về âm cảnh tạ tình sâu !

Gieo đầu… quyết đáp đền ân trọng,

Ngã xác… chừng thương cảm lệ sầu !

Oan khí tương truyền hay tiếc hận ?

Vì nàng chưa dứt kiếp bèo dâu !

 

KIỀU ĐÀN CHO HỒ TÔN HIẾN (Bài 1)

1.- Tang chồng… ray rứt cơn phiền não,

Mà phải so tơ… khúc dãi dầu !

Mười ngón tay ngà căng mạch máu,

Bốn dây đàn ngọc thấm dòng châu !

Lòng đau phím tủi hồn điên đảo,

Tình chết cung thương phận thảm sầu !

Bạc mệnh ai gieo đời gió bão,

Mười lăm năm… biết mấy cồn dâu !

 

2.- Mười lăm năm… biết mấy cồn dâu !

Thương khách hùng anh chết khổ đau.

Xác bỏ trường sa hờn gió hận,

Hồn theo trướng gấm quyện cung sầu !

Vì chồng rưng phiếm dâng hoài bão,

Cho kẻ say men nhận sở cầu !

Cảo táng di hình nơi tiện thổ,

Từ công ắt hiểu tấm tình sâu ?!

 

KIỀU ĐÀN CHO HỒ TÔN HIẾN (Bài 2)

1.- Tang chồng ai oán… hoen hồn phấn,

Mà phải lên dây khúc Phượng Cầu !

Máu rướm tay ngà rung điệu nhấn,

Lệ tràn mắt biếc đượm tình đau !

Đoạn trường mỗi tiếng đàn ly hận,

Bạc mệnh từng cung bậc thảm sầu !

Có biết cho chăng người tử trận ?

Suối vàng… xin hãy cố chờ nhau !

 

2.- Suối vàng xin hãy cố chờ nhau !

Ơi hỡi Từ công !  thiếp khổ đau.

Vâng lệnh so tơ hồn áo não,

Nhớ lời xót liễu lệ u sầu !

Những mong dâng trọn tình sông núi,

Mà phải vùi chung cuộc bể dâu !

Tuy tiếng đàn do người ép buộc,

Đành xin… gởi xuống nấm mồ sâu !

 

 VỊNH  THỔ  QUAN

Có người vợ đẹp tựa nàng tiên,

Khấp khởi mừng hơn bắt được tiền !

Trước mũi cười say đời hạnh phúc,

Trong khoang khóc tủi phận thuyền quyên !

Hồn đau… luống tưởng thân Từ Hải,

Sóng vỗ… chừng nghe tiếng Đạm Tiên !

Nát ngọc trầm châu đành tử biệt,

Thương thay quan Thổ khóc thầm duyên !

 

KIỀU TỰ TỬ TRÊN SÔNG TIỀN ĐƯỜNG.

(Tự tử lần 3)

Triều sóng ầm vang vỗ mặt thuyền,

Hỏi ra mới biết nhánh sông Tiền.

Nhớ lời Đạm dặn xong đường nợ,

Nghĩ nghĩa Từ thương chắp mối duyên !

Thẹn mặt giết chồng gieo khốn khổ,

Hận mình khuyên chúa chuốc oan khiên !

Trông vời con nước trầm thân xác,

Tuyệt mệnh từ đây hết não phiền !

 

 

ĐẠM TIÊN BÁO MỘNG

           (Lần Thứ Ba)

1.- Tưởng rồi sóng cả dập vùi thây,

Nào có ngờ đâu phúc phận dầy.

Tam Hợp Đạo Cô đà chỉ đó,

Giác Duyên Sư Trưởng vẫn chờ đây.

Neo thuyền đợi lúc chài tung khắp,

Chực bến dành khi lưới bủa đầy.

Nàng được vớt lên còn chửa tỉnh,

Mà hồn… nghe tiếng Đạm vui vầy !

 

2.- Rằng tôi… lòng đã cố công chờ,

Mười mấy năm dư sống dật dờ,

Một – để hiện về dăm phút mộng,

Hai – là đem trả mấy vần thơ !

Đoạn trường mệnh đặt nào suy suyển,

Hạnh phúc trời ban có lọc lừa !

Bởi chị… tạo nhiều công đức lớn,

Trần gian còn nối lại đường tơ !

KIỀU TU BÊN SÔNG TIỀN ĐƯỜNG

(Đi Tu Lần 3)

Chùa cạnh dòng sông núi tiếp mây,

Nàng tu cho trọn xác thân này.

Sớm trưa kinh kệ tìm duyên Phật,

Chiều tối đèn nhang giữ đạo Thầy.

Hẩm hút muối dưa – đường giải thoát,

Loẹt lòe son phấn – nẻo mê lầy !

Tình xưa nghĩa cũ cơ hồ dứt,

Nghiệp quả tiền căn hết đọa đày !

 

 KIM TRỌNG KHÓC KIỀU

1.- Nửa năm từ giã đất Liêu Dương,

Kim Trọng bôn chôn nuốt dặm trường.

Trở lại vườn xưa người vắng vẻ,

Tìm sang lầu cũ cảnh thê lương !

Khổ ơi dâu bể nào tang tóc,

Tiếc nhẽ trời mây cũng chán chường !

Nàng đã bán mình xa diệu viễn,

Nghe chừng sấm nổ… rụng vầng dương !

 

2.- Nghe chừng sấm nổ… rụng vầng dương !

Nước mắt trào theo nỗi đoạn trường !

Một tỉnh mười mê mơ vẻ ngọc,

Nghìn thương trăm nhớ khóc đài gương !

Xa xôi lòng vẫn còn đeo đẳng,

Biền biệt hồn luôn mãi vấn vương !

Quyết một tìm nàng cho thấy mặt,

Dẫu rằng thân xác dãi dầu sương… !

 

KIM TRỌNG SÁNH DUYÊN VỚI THÚY VÂN

Tình chị, duyên em luống ngậm ngùi,

Chỉ hồng sao khéo lộn trò vui ?!

Khóc hoa nào nghĩ người thay thế,

Ấp ngọc mà thương kẻ dập vùi !

Chăn chiếu rỡ ràng mơ thấy bóng,

Phấn son bằng bặt tưởng nghe mùi !

Tuy rằng hạnh phúc tròn trăng mới,

Càng nhớ… thuyền xưa lạc giữa vời !

 

VƯƠNG KIM CÙNG ĐỔ ĐẠT

Chế khoa gặp hội tiếng đồn vang,

Kim Trọng, chàng Vương chiếm bảng vàng !

Ngõ hạnh liễu chào hoa thắm tỏa,

Dặm phần hương gửi gió lành sang.

Quê nhà nở mặt vui nguyền ước,

Đất khách thương người khổ hận mang !

Đàn hát sớm khuya lầu vắng vẻ,

Riêng lòng… luống tưởng kẻ lầm than !

 

VƯƠNG KIM CÙNG PHÓ NHẬM

Vương-Kim vừa được sắc phong quan,

Phó nhậm cùng vui tách dặm ngàn.

Khéo nhẽ ! xuôi về miền Phúc Kiến,

Lành thay ! lại tới bến Tiền Đường !

Hỏi thăm sau trước đời tan nát,

Nghe rõ đầu đuôi kiếp đọan trường !

Đáy nước mồ chôn người thục nữ,

Ôi hồn Tinh Vệ quá ngùi thương !

 

GIA ĐÌNH CHIÊU HỒN KIỀU

Nơi đây… nàng đã đắm chìm châu,

Thiết lập đàn chay để nguyện cầu.

Sóng nước chập chờn cơn gió rét,

Trời mây man mác tấc lòng đau !

Âm hồn bến lạnh còn đeo khổ ?

Dương cảnh bờ mê đã đoạn sầu ?!

Xin đấng cao dày thương phận mỏng,

Cho người được hưởng phúc ân sâu !

 

GIÁC DUYÊN BÀY TỎ NGUỒN CƠN

Chuông mõ siêu linh tế độ nàng,

Giác Duyên đâu bỗng lại tìm sang.

Trông lên bài vị càng ngơ ngẩn ?

Nghe đến họ tên quá ngỡ ngàng !

Bày rõ khúc nôi đầy ẩn trắc,

Nghe tường tự sự lắm hoang mang !

Cùng theo Sư tới ngoài am cỏ,

Nghi vấn… lòng ai cũng ngổn ngang ?!

 

SUM HỢP MỘT NHÀ

Giác Duyên lên tiếng gọi nàng ra,

Sum họp từ đây đủ một nhà !

Cha mẹ nhìn con hồn lảo đảo,

Đàn em gặp chị lệ phôi pha !

Mừng mừng, tủi tủi tình sâu nặng,

Nhớ nhớ, thương thương nghĩa đậm đà !

Xao xuyến chàng Kim giờ thấy lại,

Đài gương năm cũ hết phong ba !

 

THÚY VÂN NHƯỜNG DUYÊN CHO CHỊ

Một nhà… vui mở tiệc đoàn viên,

Vân mới trình qua những nỗi niềm.

Duyên chị bèo trôi lìa gác nguyệt,

Tình em hoa nở thế cung thiềm.

Bấy lâu chia cách chìm son phấn,

Giờ đã trùng lai đổi áo xiêm.

Gương vỡ lại lành… xin nối tiếp,

Đường tơ năm cũ động hương rèm !

 

KIỀU GẢY ĐÀN LẦN TÁI HỢP KIM TRỌNG

1.- Mười mấy năm trời xa cách nhau,

Người xưa giờ hỏi khúc ngân sầu.

Nàng gieo sóng nhạc bừng tươi sắc,

Chàng ngỡ hồn thơ đượm thắm mầu !

Giai điệu thanh tao nhòa bể hận,

Âm ba dìu dặt đậm tình sâu !

Cũng bàn tay chuốc đường tơ đó…

Mà đã thay cung bậc dãi dầu !

 

2.- Mà đã thay cung bậc dãi dầu !

Phải chăng trời cũng dứt niềm đau ?

Vì kia cội phúc đang bày rõ,

Và cả nguồn nhân được thấm sâu !

Một mối oan khiên chìm đáy bể,

Mấy vòng nghiệt ngã xoá cồn dâu !

Tiếng đàn thảm oán không còn nữa…

Cho nét phù dung nảy ngọc châu !

 

KHÓC VÌ ĐÂU ?!

Mười lăm năm đó… biết bao tình,

Cười hận, buồn vui nỗi nhục vinh !

Ví phỏng giai nhân đừng mệnh bạc ?

Thì đâu thi khách tiếc hồn trinh !

Dòng đời mãi tạo đường ngang trái,

Cuộc thế nào thôi chuyện bất bình !

Ôi bụi trần ai đầy lớp lớp…

Khóc người… hay khóc chữ nhân sinh…!

                     Nhật Hồng Nguyễn-Thanh-Vân

Advertisements